Thư cựu học sinh gửi các thế hệ Thầy trò Trường THPT Hải Lăng

Chúng tôi xin đăng thư Thầy Phan Văn Hậu, cựu Giáo viên Toán Trường THPT Hải Lăng.(Địa chỉ: Đội 14-Xã Thanh Tùng-Huyện Thanh Chương-Nghệ An. DĐ: 01669167887)

Chúng tôi xin đăng thư Thầy Phan Văn Hậu, cựu Giáo viên Toán Trường THPT Hải Lăng.(Địa chỉ: Đội 14-Xã Thanh Tùng-Huyện Thanh Chương-Nghệ An. DĐ: 01669167887)

 

CÓ MỘT THỜI ĐỂ NHỚ!

Đầu tháng 7/1974 đoàn chúng tôi gồm 13 người (10 nam, 3 nữ) là giáo viên cấp 1, 2, 3 từ trường Bồi dưỡng cán bộ đi B của bộ giáo dục lên đường vào chi viện cho Ty giáo dục Quảng Trị. Đến Ty gần một tuần thì chia tay nhau về các phòng trong vùng giải phóng, còn tôi ở lại Ty.

Ngày 30/4/1975, Miền Nam hoàn toàn giải phóng. Đầu tháng 5 năm 1975,  chúng tôi gồm anh Ba (còn gọi là anh Hải), anh Bá và tôi từ Ty giáo dục Quảng Trị lên đường vào tiếp quản Trường Trung học Nguyễn Hoàng (Trường có trung học đệ nhất và trung học đệ nhị cấp) khi đó đặt tại bải cát Diên Sanh, Hải Lăng, về sau đổi tên thành Trường Trung học đệ nhị cấp tỉnh Quảng Trị. Chúng tôi thường gọi là trường cấp 3 Hải Lăng, tiền thân của Trường PTTH Hải Lăng ngày nay.

Nói là tiếp quản nhưng khi chúng tôi đến trường thì trường chẳng có ai, giáo viên không, học sinh không, chỉ có một nhà lầu 2 tầng, một dãy nhà trệt lợp tôn làm lớp học trong đó xếp bàn ghế học sinh, có nhiều bộ đã cũ nát, xiên xẹo, cũng có vài phòng bỏ không, chúng tôi không hiểu trước đây dung để làm gì. Ban điều hành lúc đó có: anh Ba-Hiệu trưởng; anh Bá –Thư ký hội đồng; Tôi-công đoàn. Có lẽ 3 chúng tôi là 3 giáo viên đầu tiên của trường PTTH Hải Lăng ngày nay.

Sau khi đến trường không lâu, một số giáo viên miền Bắc chi viện vào có: Cô Dung, Cô Nga, anh Hợi: giáo viên cấp 2. Anh Liêm, anh Nghĩa: Giáo viên cấp 3. Cũng trong thời gian này khá đông anh chị em giáo viên trước dạy ở đây được gọi lại tiếp tục giảng dạy về cấp 2 tôi không nhớ. Còn cấp 3 có: Anh Phú, anh Trí (GV Toán), anh Dòa, anh Sum (GV Lý), cô Lê (GV Sinh), anh Nhật (GV Văn), cô Dung (GV Ngoại ngữ) và một số nữa. Phần đông anh em này còn rất trẻ, tuổi nghề còn ít, có người mới ra trường chưa nhận được đồng lương nào của chế độ ngụy. Nhiều tuổi nhất có lẽ là anh Phú vì đầu đã có đôi sợi tóc bạc và đã từng đi quân dịch trong thời ngụy. Công việc trước mắt của nhà trường lúc này là: Gọi học sinh trở lại trường, tiếp tục giảng dạy hoàn thành chương trình năm học 1974-1975. Riêng tôi được phân công chủ nhiệm lớp 12B (Tú tài Toàn) và dạy Toán. Lớp gồm 40 em, không có nữ, phần lớn là học sinh của trường. Ngoài ra còn có nhiều em từ các trường khác chuyển về sau giải phóng. Trong số này không ít em trước đây đi trốn quân dịch nên rất lớn cả người lẫn tuổi.

Những ngày đầu tiên nhận lớp, tôi gặp rất nhiều khó khăn, thầy chẳng biết trò, trò chẳng hiểu thầy, sách giáo khoa mới cả nội dung lẫn hình thức. Tài liệu hướng dẫn, sách tham khảo, chương trình: Tất cả đều không. Mình tôi phải vừa học, vừa dạy. Có vấn đề nào đó tôi chưa rõ phải tham khảo anh Phú, giáo viên cũ dạy lớp 12 của trường này. Thế rồi mọi việc cũng đã qua. Sau gần 3 tháng học tập và giảng dạy các lớp, các khối đã hoàn thành chương trình, các lớp cuối cấp đã thi tốt nghiệp với kết quả cao. Riêng lớp tôi có 38/40 em đậu tốt nghiệp, có em là thủ khoa của Tỉnh khóa đó. Thi xong tôi ra Bắc nghỉ hè, để rồi hết phép trở lại trường bước vào năm học mới, năm học đầu tiên của Trường P.T.T.H Hải Lăng, năm học 1975–1976.

Tháng 8 năm 1975, hết phép từ miền Bắc trở lại trường để khai giảng năm học mới. Trước khi khai giảng, các tổ chức trong trường đã được thành lập như: Công đoàn, đoàn thanh niên, tổ chuyên môn, chủ nhiệm, … Chi bộ đã có quyết định chính thức thành lập, do đ/c Bá làm bí thư. Các đảng viên có: anh Bá, anh Liêm, tôi và mấy đ/c nữa. Đầu tháng 9/1975, lễ khai giảng được tổ chức tại sân trường. Tuy không rầm rộ, đàng hoàng như bây giờ nhưng cũng đầy đủ nội dung có: Diễn văn khai mạc, có phát biểu ý kiến của đại biểu, có văn nghệ, …

Năm học mới đã bắt đầu nhưng vật chất của trường chưa có gì thay đổi, ngoài mấy dãy nhà làm phòng học thì thư viện không, sách tham khảo, sách hướng dẫn không, phòng thí nghiệm không. Tuy thế việc giảng dạy và học tập bước đầu đã đi vào quy cũ. Khu tập thể  của giáo viên là Ty giáo dục thời ngụy, nhà ăn là chiếc xe hậu cần của quân đội ngụy, trong như chiếc xe ô tô khách còn nguyên vẹn. Phần lớn giáo viên ăn ngủ tại trường. Lúc đầu giáo viên cũ và giáo viên giải phóng còn có khoảng cách, về sau qua giảng dạy, qua những buổi sinh hoạt chuyên môn, qua ăn ở tập thể, khoảng cách đó mau chóng được xóa bỏ, càng lâu chúng tôi sống với nhau càng gần gũi, thân mật.Tuy thế bên ngoài vẫn có sự khác biệt dễ thấy: Anh em giáo chức đã ăn mặc bảnh bao, chân đi dày, còn chúng tôi vẫn áo quần giải phóng, đầu đội mũ tai bèo, chân đi dép cao su. Năm học đó tôi được phân công dạy Toán và chủ nhiệm lớp 12B. Cả lớp có 42 em, toàn nam. Đầu năm học đã có sách giáo khoa mới từ Miền Bắc gửi vào nhưng các tài liệu cần thiết khác như hướng dẫn giảng dạy, tài liệu tham khảo thì không có gì nên chúng tôi còn gặp rất nhiều khó khăn. Tuy thế dưới sự chỉ đạo của Ty, sự cố gắng của thầy và trò chúng tôi đã hoàn thành năm học tốt đẹp. Riêng lớp 12B của tôi đã có 40/42 em đậu tốt nghiệp. Thi xong, tôi vào trường Quốc học Huế chấm thi. Khi về được biết Ty giáo dục cho anh em giáo viên chi viện được về quê nếu có nguyện vọng. Nghe tin đó, trước khi về nghỉ hè tôi làm đơn gửi lên Ty. Và hè năm đó (1976), tôi nhận quyết định chuyển về Bắc. Từ năm đó, tôi dạy tại trường tại Trường THPT Thanh Chương 2, cho đến khi nghỉ hưu (1998). Và cũng từ đó đến nay tôi chưa có dịp trở lại thăm trường. Thời gian tuy ngắn nhưng đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm sâu sắc.

Các thầy cô thân mến!

Thời gian tôi dạy ở trường THPT Hải Lăng không lâu, nhưng là ngày đầu tiên của giải phóng Miền Nam, ngày lịch sử của đất nước nên có nhiều sự kiện khó quên, tôi ghi lại trên trang giấy này để thầy cô tham khảo

Cuối cùng để kết thúc bài hồi ức này, tôi có mấy khổ thơ sau làm lời kết.

 

NHỚ TRƯỜNG XƯA

Lâu rồi, Trường học Hải Lăng ơi!

Nơi đó đời tôi có một thời

Tiếng nói vang lên trên bục giảng

Khi vừa đất nước hết chia đôi.

–*—

Bãi cát hoang vu tự thuở nào

Bây giờ cây cối đã lên cao

Trường mới cao tầng chen trong lá

Đêm về điện sáng át trăng sao

–*—

Trò cũ: Các em đang ở đâu?

Chắc hẳn nhiều em đã bạc đầu

Có biết thầy xưa còn nhớ mãi

Ngày đầu giải phóng sống bên nhau.

–*—

Tuổi già, sức yếu chẳng đi xa

Nỗi nhớ trường xưa, nỗi nhớ nhà

Nơi đó còn ghi bao kỷ niệm

 Hải Lăng ơi! mãi mãi trong ta.

 

Nghệ An, mùa đông 2012.

Chào thân ái!

Phan Văn Hậu-cựu giáo viên.

 

Bài tin liên quan
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 71
Hôm qua : 78
Tháng 10 : 1.474
Năm 2018 : 12.526